Trong bài viết này, chúng ta sẽ nói đến việc sử dụng credit (danh đề) mang tính sở hữu - “A film by - Một bộ phim của” và nhiều biến thể khác, thay vì chỉ sử dụng credit mang tính “khiêm tốn” hơn là “Directed by - Đạo diễn bởi.”
Cuộc tranh cãi giữa việc liệu người đạo diễn có nên sử dụng từ mang tính sở hữu - hay còn được biết đến trong giới showbiz là “vanity” (tự phụ) credit hay không hiện vẫn đang tồn tại giữa các đạo diễn với nhau và với cả phần lớn những con người có tên trong phần credit của phim.
Khi một người đạo diễn biến bộ phim thành sản phẩm riêng của bản thân, họ đã làm hạ thấp công sức và nỗ lực của khoảng hàng chục đến hang trăm, thậm chí hàng nghìn thành viên trong đoàn, những người cũng có đóng góp về mặt sáng tạo và nghệ thuật, nhằm làm tăng thêm tên tuổi và vị thế của mình. Đó chính là ý kiến tranh luận từ những người không ủng hộ. Tính đến nay thì “Possessory credit hay vanity credit” đã tồn tại được 109 năm và giải thưởng Oscar của Viện hàn lâm AMPAS là một trong những minh chứng rõ ràng về sự tồn tại của nó.
NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ CỦA VANITY CREDIT
Phần credit “A film by” (Một bộ phim của) xuất hiện lần đầu tiên vào ngày 3 tháng 3 năm 1915 trong tác phẩm The Birth of a Nation của đạo diễn D.W. Griffith và nó đã trở thành đề tài tranh luận ở Hollywood trong suốt thời gian qua. Cho đến những năm 1913, phần lớn các đạo diễn và diễn viên thường không được nêu tên trong phần credit của phim vì nó là cách để các nhà sản xuất không phải tăng lương cho những nhà làm phim. Sau đó, ông Griffith đã làm sản xuất, đồng viết kịch bản, đạo diễn và dựng phim cho một tác phẩm được coi là một cột mốc đáng nhớ của lịch sử điện ảnh.
Chắc có lẽ Possessory credit đã được sáng tạo ra để bù đắp lại cho những năm tháng mà công sức của các nhà làm phim không được ghi nhận. Tác giả Griffith cũng đã ghi nhận công lao của những người làm việc cùng mình trong tác phẩm của ông. Phần quảng cáo của bộ phim đã miêu tả: “Tác phẩm điện ảnh tuyệt vời của D.W. Griffith dựa trên câu chuyện nổi tiếng của Thomas Dixon,” và đưa ra thông tin “bộ phim bao gồm công việc của 18 nghìn người.”
Phần danh đề của những phim sau này, ngoài trường hợp của The Birth of a Nation, thì vẫn không có sự thay đổi. Các tác phẩm điện ảnh thường được sở hữu bởi các studio bỏ tiền ra thực hiện chúng - ví dụ như Double Indemnity (1944) có credit thuộc về hãng Paramount hay Singin’ in the Rain (1952) thuộc về MGM’s Technicolor. Ngoài ra, các nhà sản xuất sẽ thỉnh thoảng chiếm credit thuộc về mình (The Best Years of Our Lives của Samuel Goldwyn’s).
Vanity credit thực sự ăn sâu vào Hollywood với sự nổi lên của các nhà làm phim gạo cội và nó đã trở thành một thành phần gần như bắt buộc vào những năm 1970 - 1980 khi mà các đạo diễn này đã làm vực dậy của Hollywood.
Một bên ta có nhà làm phim Steven Soderbergh từ chối việc sử dụng thuật ngữ “auteur”, một thuật ngữ tiếng Pháp mà những người đam mê điện ảnh sử dụng để chỉ một đạo diễn có phong cách riêng biệt và dễ nhận biết, do đó là tác giả chính của một bộ phim. Soderbergh cũng từ chối việc sở hữu mức lương cao nhất trong dự án. Dù tự mình làm đạo diễn, quay phim và dựng phim, Soderbergh lại sử dụng những cái tên giả để đưa vào danh đề (như Mary Ann Bernard, một tác phẩm để tưởng nhớ cho người mẹ của mình). Trong một bài phỏng vấn với báo SuicideGirls, nhà làm phim đã chia sẻ “Tôi không bao giờ thích việc phải đưa tên mình đại diện cho bất cứ thứ gì, đó chính là lý do vì sao mà tôi không dùng Vanity credit.”
Một bên hoàn toàn ngược lại ta có đạo diễn Lee Daniels, người đặt tên của ông vào chính tên của phim, qua đó mãi mãi đánh dấu tên tuổi của ông bằng một dấu nháy đơn. Trước khi tác phẩm Lee Daniels’ The Butler (2013) ra đời, ta có sự xuất hiện của Alfred Hitchcock’s Psycho (1960) và Fellini’s Casanova (1976). Một vài đạo diễn khác sử dụng cả một câu ngắn như là “A Frank Capra production” (Một sản phẩm của Frank Capra) hay là “A Martin Scorsese picture” (Một bộ phim của Scorsese) trong phim The King of Comedy, Raging Bull. Đặc biệt là trường hợp của tiêu đề: The 4th film by Quentin Tarantino (Bộ phim thứ tư của Quentin Tarantino) thấy trong trailer của phim Kill Bill: Volume 1 (2003).
Gần đây có trường hợp của đạo diễn giành giải Oscar Alejandro G. Iñárritu, người sử dụng credit “Một bộ phim của Alejandro G. Iñárritu”. Nhà làm phim này đã tranh đấu một cách công khai với người từng viết kịch bản cùng với ông về việc sử dụng credit. Biên kịch Guillermo Arriaga, người đã cùng làm việc với Iñárritu trong kịch bản của phim Amores Perros (2000), 21 Grams(2003), và Babel (2006), đã trả lời phỏng vấn của tờ The New York Times như sau “Tôi luôn phản đối việc sử dụng “Một bộ phim của” trong phần danh đề của một bộ phim. Nó là một quá trình của sự hợp tác.” Tuy nhiên, chính Iñárritu đã khẳng định rằng Arriaga mới là người muốn chiếm đoạt hào quang của phim Babel cho mình. Người đạo diễn tài ba này thậm chí còn đã cấm người viết kịch bản cùng mình tham gia lễ công chiếu của bộ phim Babel tại Liên hoan phim Cannes. Hai người đã không còn làm việc với nhau kể từ lần đó.
Lại phải kể đến đạo diễn John Frankenheimer, người đã hoàn thành hơn 30 tác phẩm điện ảnh, đã đe dọa giải nghệ nếu việc dùng “Vanity” credit bị bãi bỏ.
Tham khảo
Khóa học làm phim cơ bản tại Hà Nội và
Khóa học làm phim cơ bản tại TP Hồ Chí Minh
Cho dù thế nào đi chăng nữa, những đạo diễn nổi tiếng như Christopher Nolan vẫn tiếp tục sử dụng “Vanity” credit và vẫn gặt hái được nhiều thành công dù bên Hiệp hội các nhà biên kịch Mỹ (W.G.A) đã yêu cầu việc câu “Một bộ phim của Christopher Nolan (A Christopher Nolan film) phải bị bôi đen đi trong tiêu đề của phim The Dark Knight (2008). Nhiều đạo diễn thậm chí còn sử dụng nó trong tác phẩm đầu tay của mình.
Ở phía đối lập, tham gia nhóm những đạo diễn ủng hộ việc sử dụng “Đạo diễn bởi” là đạo diễn Sidney Lumet (Dog Day Afternoon (1975), Network (1976). Lumet không chỉ từ chối việc sử dụng credit mang tính sở hữu mà hợp đồng của ông còn cấm các hãng phim được sử dụng “vanity” credit trong các chiến dịch quảng cáo cho phim của ông. Nhà đạo diễn lỗi lạc này tuy đã được đề cử giải Đạo diễn xuất sắc tại Oscar 4 lần nhưng ông vẫn chưa có vinh dự được lên bục nhận tượng vàng. Tuy nhiên vào năm 2005, Lumet đã được trao tặng giải Thành tựu trọn đời và trong bài phát biểu nhận giải, ông đã cảm ơn những đạo diễn đã truyền cảm hứng cho ông, những nhà biên kịch mà ông đã “đánh cắp” công sức của họ và cuối cùng là cảm ơn chính “những bộ phim.” Trong trường hợp của Lumet, sự khiêm tốn của ông đã mang đến nhiều sự thiện cảm hơn.
Vào năm 1966, Hiệp hội các nhà Biên kịch nước Mỹ (Writers Guild of America -W.G.A.) đã đấu tranh đến cùng với Hiệp hội các nhà Đạo diễn nước Mỹ (Directors Guild of America - D.G.A.) về vấn đề này. Qua những cuộc thảo luận bí mật của W.G.A với Hiệp hội nhà sản xuất phim điện ảnh và truyền hình Mỹ, một thỏa thuận đã được ra đời. Qua đó, một người đạo diễn sẽ không thể đưa vào phim credit mang tính sở hữu trừ khi chính họ là người viết kịch bản. Khi tin tức này được chuyển đến tai các đạo diễn, họ đã gửi những thông điệp rất giận dữ đến các studio và đe dọa sẽ đình công. Đạo diễn David Lean đã so sánh sự đóng góp của ông cho bộ phim Dr. Zhivago (1965) so với nhà biên kịch: “Đây là bộ phim của tôi và kịch bản của anh ta, phim mà tôi đã ghi hình trong khi anh ta không có mặt ở đây”. Các đạo diễn đã áp đảo W.G.A khi mà cuộc tranh luận được dấy lên trong những năm 1981, 1994 và 2000.
Đến năm 2004, D.G.A đã cho phát hành hướng dẫn về việc sử dụng credit, nhưng vẫn để lại một lỗ hổng lớn khi khiến chúng trở thành việc “không bị ràng buộc”.
(The Variety)
Tham khảo
Khóa học làm phim cơ bản tại Hà Nội và
Khóa học làm phim cơ bản tại TP Hồ Chí Minh